Gốc > Bài viết > Chia sẻ kinh nghiệm >

Các kĩ thuật dạy học tích cực

Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS. Các kỹ thuật dạy học tích cực được trình bày sau đây có thể được áp dụng thuận lợi trong làm việc nhóm. Tuy nhiên chúng cũng có thể được kết hợp thực hiện trong các hình thức dạy học toàn lớp nhằm phát huy tính tích cực của HS. Các kỹ thuật được trình bày dưới đây cũng được nhiều tài liệu gọi là các PPDH.
1. Động não
1.1. Khái niệm: Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng). Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ) phát triển, dựa trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn độ.
1.2. Quy tắc của động não
•Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên;•Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày;
•Khuyến khích số lượng các ý tưởng;
•Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng.
Các b*ước tiến hành
1. Ngư*ời điều phối dẫn nhập vào chủ đề và xác định rõ một vấn đề;
2. Các thành viên đưa ra những ý kiến của mình: trong khi thu thập ý kiến, không đánh giá, nhận xét. Mục đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau;
3. Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
4. Đánh giá:
•Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng dụng
- Có thể ứng dụng trực tiếp;
- Có thể ứng dụng như*ng cần nghiên cứu thêm;
- Không có khả năng ứng dụng.
•Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn•Rút ra kết luận hành động.
1.3. Ứng dụng
•Dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề;
•Tìm các phương án giải quyết vấn đề;
•Thu thập các khả năng lựa chọn và ý nghĩ khác nhau.
1.4. Ưu điểm
•Dễ thực hiện;
•Không tốn kém;
•Sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể;
•Huy động được nhiều ý kiến;
•Tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia.
1.5. Nhược điểm
•Có thể đi lạc đề, tản mạn;
•Có thể mất thời gian nhiều trong việc chọn các ý kiến thích hợp;
•Có thể có một số HS „quá tích cực“, số khác thụ động.Kỹ thuật động não được áp dụng phổ biến và nguời ta xây dựng nhiều kỹ thuật khác dựa trên kỹ thuật này, có thể coi là các dạng khác nhau của kỹ thuật động não.
2. Động não viết
2.1. Khái niệm:Động não viếtlà một hình thức biến đổi của động não. Trong động não viết thì những ý tưởng không được trình bày miệng mà được từng thành viên tham gia trình bày ý kiến bằng cách viết trên giấy về một chủ đề.Trong động não viết, các đối tác sẽ giao tiếp với nhau bằng chữ viết. Các em đặt trước mình một vài tờ giấy chung, trên đó ghi chủ đề ở dạng dòng tiêu đề hoặc ở giữa tờ giấy. Các em thay nhau ghi ra giấy những gì mình nghĩ về chủ đề đó, trong im lặng tuyệt đối. Trong khi đó, các em xem các dòng ghi của nhau và cùng lập ra một bài viết chung. Bằng cách đó có thể hình thành những câu chuyện trọn vẹn hoặc chỉ là bản thu thập các từ khóa. Các HS luyện tập có thể thực hiện các cuộc nói chuyện bằng giấy bút cả khi làm bài trong nhóm. Sản phẩm có thể có dạng một bản đồ trí tuệ.
2.2. Cách thực hiện
•Đặt trên bàn 1-2 tờ giấy để ghi các ý tưởng, đề xuất của các thành viên;
•Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình trên các tờ giấy đó;
•Có thể tham khảo các ý kiến khác đã ghi trên giấy của các thành viên khác để tiếp tục phát triển ý nghĩ;
•Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm.
2.3. Ưu điểm
•Ưu điểm của phương pháp này là có thể huy động sự tham gia của tất cả HS trong nhóm;
•Tạo sự yên tĩnh trong lớp học;
•Động não viết tạo ra mức độ tập trung cao. Vì những HS tham gia sẽ trình bày những suy nghĩ của mình bằng chữ viết nên có sự chú ý cao hơn so với các cuộc nói chuyện bình thường bằng miệng;
•Các HS đối tác cùng hoạt động với nhau mà không sử dụng lời nói. Bằng cách đó, thảo luận viết tạo ra một dạng tương tác xã hội đặc biệt;
•Những ý kiến đóng góp trong cuộc nói chuyện bằng giấy bút thường được suy nghĩ đặc biệt kỹ.
2.4. Nhược điểm
•Có thể HS sa vào những ý kiến tản mạn, xa đề;
•Do được tham khảo ý kiến của nhau, có thể một số HS ít có sự độc lập.
3. Động não không công khai
•Động não không công khai cũng là một hình thức của động nãoviết. Mỗi một thành viên viết những ý nghĩ của mình về cách giải quyết vấn đề, nh*ưng ch*ưa công khai, sau đó nhóm mới thảo luận chung về các ý kiến hoặc tiếp tục phát triển.
*Ưu điểm:mỗi thành viên có thể trình bày ý kiến cá nhân của mình mà không bị ảnh hư*ởng bởi các ý kiến khác. •Nh*ược điểm:không nhận được gợi ý từ những ý kiến của ng*ười khác trong việc viết ý kiến riêng.
4. Kỹ thuật XYZ: là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm. X là số người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗi người.
Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:
•Mỗi nhóm 6 ng*ười, mỗi ng*ười viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho ngư*ời bên cạnh;
•Tiếp tục như* vậy cho đến khi tất cả mọi ng*ười đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác;
•Con số X-Y-Z có thể thay đổi;
•Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến.
5. Kỹ thuật “bể cá”: là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận.Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi. HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm. Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh. Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau.
Bảng câu hỏi cho những người quan sát
• Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không?
• Họ có nói một cách dễ hiểu không?
• Họ có để những người khác nói hay không?
• Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không?
• Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không?
• Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không?
• Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không?
6. Kỹ thuật “ổ bi”: là một kỹ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác.Cách thực hiện:
•Khi thảo luận, mỗi HS ở vòng trong sẽ trao đổi với HS đối diện ở vòng ngoài, đây là dạng đặc biệt của phương pháp luyện tập đối tác;
•Sau một ít phút thì HS vòng ngoài ngồi yên, HS vòng trong chuyển chỗ theo chiều kim đồng hồ, tương tự như vòng bi quay, để luôn hình thành các nhóm đối tác mới.
7. Tranh luận ủng hộ – phản đối
Tranh luận ủng hộ – phản đối (tranh luận chia phe) là một kỹ thuật dùng trong thảo luận, trong đó đề cập về một chủ đề có chứa đựng xung đột. Những ý kiến khác nhau và những ý kiến đối lập được đưa ra tranh luận nhằm mục đích xem xét chủ đề dưới nhiều góc độ khác nhau. Mục tiêu của tranh luận không phải là nhằm “đánh bại” ý kiến đối lập mà nhằm xem xét chủ đề dưới nhiều phương diện khác nhau.
Cách thực hiện:
•Các thành viên được chia thành hai nhóm theo hai hướng ý kiến đối lập nhau về một luận điểm cần tranh luận. Việc chia nhóm có thể theo nguyên tắc ngẫu nhiên hoặc theo nguyên vọng của các thành viên muốn đứng trong nhóm ủng hộ hay phản đối.
•Một nhóm cần thu thập những lập luận ủng hộ, còn nhóm đối lập thu thập những luận cứ phản đối đối với luận điểm tranh luận.
•Sau khi các nhóm đã thu thập luận cứ thì bắt đầu thảo luận thông qua đại diện của hai nhóm. Mỗi nhóm trình bày một lập luận của mình: Nhóm ủng hộ đưa ra một lập luận ủng hộ, tiếp đó nhóm phản đối đưa ra một ý kiến phản đối và cứ tiếp tục như vậy. Nếu mỗi nhóm nhỏ hơn 6 người thì không cần đại diện mà mọi thành viên có thể trình bày lập luận.
•Sau khi các lập luận đã đưa ra thì tiếp theo là giai đoạn thảo luận chung và đánh giá, kết luận thảo luận.
8. Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học
Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là GV và HS cùng nhận xét, đánh giá, đ*ưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có ảnh hư*ởng tới quá trình học tập nhằm mục đích là điều chỉnh, hợp lí hoá quá trình dạy và học.
Những đặc điểm của việc đưa ra thông tin phản hồi tích cực là:
•Có sự cảm thông;
•Có kiểm soát;
•Đ*ược ngư*ời nghe chờ đợi;
•Cụ thể;
•Không nhận xét về giá trị;
•Đúng lúc;
•Có thể biến thành hành động;
•Cùng thảo luận, khách quan.
Sau đây là những quy tắc trong việc đưa thông tin phản hồi:
•Diễn đạt ý kiến của Ông/Bà một cách đơn giản và có trình tự (không nói quá nhiều);
•Cố gắng hiểu đ*ược những suy tư*, tình cảm (không vội vã);
•Tìm hiểu các vấn đề cũng như* nguyên nhân của chúng;
•Giải thích những quan điểm không đồng nhất;
•Chấp nhận cách thức đánh giá của người khác;
•Chỉ tập trung vào những vấn đề có thể giải quyết đ*ược trong thời điểm thực tế;
•Coi cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến;
•Chỉ ra các khả năng để lựa chọn. Có nhiều kỹ thuật khác nhau trong việc thu nhận thông tin phản hồi trong dạy học. Ngoài việc sử dụng các phiếu đánh giá, sau đây là một số kỹ thuật có thể áp dụng trong dạy học nói chung và trong thu nhận thông tin phản hồi.
9. Kỹ thuật tia chớp
Kỹ thuật tia chớp là một kỹ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.
Quy tắc thực hiện:
•Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị;
•Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận, ví dụ: Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không?
•Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;
•Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến.
10. Kỹ thuật “3 lần 3”
Kỹ thuật “3 lần 3“ là một kỹ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích cực của HS.
Cách làm như sau:
• HS đ*ược yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung buổi thảo luận, phư*ơng pháp tiến hành thảo luận...).
•Mỗi người cần viết ra: - 3 điều tốt;- 3 điều ch*ưa tốt;- 3 đề nghị cải tiến.
•Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi.
11. Lược đồ tư duy
11.1. Khái niệm
Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề. Lược đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bản trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính.
11.2. Cách làm
•Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.
•Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính. Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng CHỮ IN HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu. Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh.
•Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.
•Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
11.3. Ứng dụng của lược đồ tư duy
Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
•Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
•Trình bày tổng quan một chủ đề;
•Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
•Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
•Ghi chép khi nghe bài giảng.
11.4. Ưu điểm của lược đồ tư duy
•Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu;
•Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng;
•Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại;
•Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.

 

Năm học mới 2010 -2011 bắt đầu với nhiều đổi mới, đặc biệt phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và thực hành thi, kiểm tra, đánh giá theo hướng khuyến khích tinh thần tự học và ý thức sáng tạo của học sinh.
Tôi xin giới thiệu với các bạn một số kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác để các bạn làm quen

A. Các lí do áp dụng kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
- Tăng cường hiệu quả học tập
- Tăng cường trách nhiệm cá nhân
- Yêu cầu áp dụng nhiều năng lực khác nhau
- Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm
B. Một số kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác
1. Kĩ thuật “Khăn trải bàn”
2. Kĩ thuật “Các mảnh ghép”
3. Sơ đồ KWL và Sơ đồ tư duy
1. Kĩ thuật “Khăn trải bàn”
Thế nào là kĩ thuật “khăn trải bàn”?
Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm)(có thể nhiều người hơn)
- Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa (xem sơ đồ ở file đính kèm)
- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…)
- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề...). Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời
- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0)
Một vài ý kiến cá nhân với kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Kĩ thuật này giúp cho hoạt động nhóm có hiệu quả hơn, mỗi học sinh đều phải đưa ra ý kiến của mình về chủ đề đang thảo luận, không ỷ lại vào các bạn học khá, giỏi.
- Kĩ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với một chủ đề nhỏ trong tiết học, toàn thể học sinh cùng nghiên cứu một chủ đề.
- Sau khi các nhóm hoàn tất công việc giáo viên có thể gắn các mẫu giấy “khăn trải bàn” lên bảng để cả lớp cùng nhận xét. Có thể dùng giấy nhỏ hơn, dùng máy chiếu phóng lớn
- Có thể thay số bằng tên của học sinh để sau đó giáo viên có thể đánh giá được khả năng nhận thức của từng học sinh về chủ đề được nêu.
(còn tiếp)

Read more: http://forum.tranbinhtrong.com/threads/6073-ki-thuat-day-hoc-tich-cuc?s=12456a4ec7d7bdb9513f321a8a975a97#ixzz1Zm7UBmu2

 

 

 

Thiết kế và sử dụng bài tập nhận thức trong dạy học môn lịch sử

Thứ năm, 07 Tháng 1 2010 08:47 phamyendlk

                        Trước xu thế đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sửtheo hướng tích cực hóa các họat động nhận thức của học sinh, nhiều giáo viênđã mạnh dạn tìm tòi và đã cố gắng tiến hành thiết kế BTNT để vận dụng trong quá trình giảng dạy. Tất nhiên trong quá trình thiết kế BTNT họ cũng gặp không ít khó khăn. Để có thể khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thiết kế BTNT, Tập san Giáo dục và Đào tạo Đắk Lắk xin giới thiệu phần lược trích sáng kiến kinh nghiệm của Thầy Hồ Sỹ Tuệ, giáo viên Lịch sử trường THPT Ngô Gia Tự.

I. NỘI DUNG

1. Phương pháp thiết kế bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử trường trung học phổ thông (THPT).

- Để thiết kế một BTNT, qua đó giúp học sinh nắm được, lĩnh hội được nội dung chính, những sự kiện cơ bản của một bài, chương hay của một khóa trình lịch sử người dạy phải biết thiết kế bài tập.

- Trước hết, chúng ta phải xác định mục đích, yêu cầu và nội dung chính của bài học hoặc của một chương, một khóa trình. Việc xác định mụcđích, yêu cầu phải gắn với mục tiêu giáo dục đã được đặt ra.

- Trong thực tế, nội dung của một khóa trình dạy học nó được tạo thành bới các yếu tố: mục đích, nội dung, người dạy và phương pháp truyền thụ. Xác định được mục đích, nội dung chính của bài, chương, hay của một khóa trình lịch sử; cho phép chúng ta thiết kế được một bai ftập sát hợp với đối tượng, của chủ thể nhận thức. Lịch sử xã hội loài người diễn ra quanh co khúc khỉu, với nhiều sự kiện chồng chéo, do đó bài tập nhận thức sẽ tạo cho học sinh cơ hội nắm bắt được sự kiện chính, cơ bản và chính xác.

Rõ ràng BTNT phải phản ánh được nội dung chính của bài mớiđem lại hiệu quả giáo dục cao. Nghĩa là trước khi thiết kế BT, chúng ta nhất thiết phải xác định được nội dung chính của bài học. Bên cạnh đó, chúng ta còn phải nắm được các loại bài tập để vận dụng cho phù hợp với đối tượng học sinh.

Bấy giờ chúng ta lấy khóa trình lịch sử cận đại thế giới Sách giáo khoa 11 ban nâng cao để xác định những nội dung chính của khóa trình lịch sử đó.

Có thể xác định được nội dung chính yếu cần đạt được trong khóa trình trên ổ các điểm sau:

Cách mạng tư sản và sự xác lập của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới.

Tuy các cuộc cách mạng diễn ra ở những mức độ và hình thức khác nhau và chúng không có thể đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của quần chúng nhân dân lao động nhưng bản thân các cuộc cách mạng đó đã làm được cái việc lớn lao - lật đổ chế độ phong kiến đã mục ruỗng, đang cản trở lực lượng sản xuất và tiến bộ lịch sử loài người.

Trên đống tro tàn đổ nát với một chuyền quân chủ chuyên chếtrước đây, nay giai cấp tư sản đã tạo dnựg một thiết chế nhà nước mới tiến bộhơn - chế độ đại nghị dân chủ. Thành quả lớn nhất của cách mạng tư sản là đã giải phóng được sức sản xuất tư bản chủ nghĩa và cũng từ đó thúc đẩy sự ra đời của cuộc cách mạng công nghiệp.

- Sự chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền (CNĐQ), những tiến bộ về kĩ thuật, việc sử dụng những nguồn năng lượng mới.... đã tạo ra khảnăng có thể xâydựng các ngành công nghiệp với quy mô lớn. Quá trình cạnh tranh trên cũng đưa đến một hệ quả tất yếu là sự phá sản các cơ sở sản xuất nhỏ, cùng với nó là tài sản sẽ tập trung vào tay một số nhà tư bản lớn. Xu hướng tập trung sản xuất và tập trung tư bản đã dẫn đến sự ra đời các công ty độc quyền dưới các hình thức: Các ten, xanh đi ca, tơ rớt. Sự cạnh tranh trong sản xuất, sự cuất khẩu tư bản nó kéo theo sự xâm chiếm thuộc địa và tranh chấp thực địa của chủ nghĩa thực dân.... Tất cả đó là dấu hiệu của quá trình chuyển biến từchủ nghĩa tư bản do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền.

+ Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học và các tổ chứcđảng công nhân là biểu hiện sinh động sự phát triển của phong trào công nhân và là kết quả tất yếu trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Đúng như tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã khắng định: "Chủ nghĩa tư bản tự đào mồ chôn chính nó". Công xã Pa Ri (1871), cách mạng dân chủ tư sản và cuộc cách mạng tháng Mười Nga, là những minh chứng quan trọng về sự thắng lợi của học thuyết C.Mác.

+ Sự phát triển của chủ nghĩa tư sản, sự xâm chiếm thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, đã dẫn tới cuộc đấu tranh chống xâm lược của các dân tộc ở Á, Phi, Mĩ la Tinh.

+ Sự phát triển rực rỡ của khoa học-kỹ thuật và văn học nghệthuật thời cận đại....

+ Cuộc đấu tranh thế giới lần thư nhất, là biểu hiện sinhđộng của sự phát triển không đều của chủ nghĩa đế quốc, dẫn đến cuộc đấu tranhđể chia lại thị trường thế giới.

2. Quy trình thiết kếbài tập nhận thức:

Nói nôm na, đây là các bước tiến hành thiết kế bài tập nhận thức, tức là trình tự tiến hành thiết kế một bài tập. Tùy theo điều kiện khách quan, tính chủ quan của cá nhân chúng ta có thể tiến hành theo các bước sauđây:

- Phân tích mục đích giáo dưỡng, giáo dục của bài học (phần này chúng ta thường xác định trong mục tiêu của bài học: kiến thức, kĩ năng, tưtưởng tình cảm.

- Nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu khác có liên quan.

- Có thể nói đây là những"nguyên liệu" để tạo ra sản phẩm bài tập.

- Chúng ta còn phải dựa vào các yếu tố: Đặc điểm trình độnhận thức của học sinh, tính chất các loại bài học và cả phương pháp dạy học đểthiết kế BT.

- Sau khi thiết kế xong, chúng ta còn phải kiểm tra lại BT,đồng thời xác định phương án trả lời.

- Cuối cùng là phải xác định phương pháp sử dụng BTNT để đạtđược hiệu quả cao nhất.

3. Phương pháp sử dụng BTNT.

Trong điều kiện hiện nay, việc giảng dạy và học tập bộ môn lịch sử vẫn còn nhiều bất cập như: Chương trình sách giáo khoa khá nặng nề, quá tải, về kết cấu các nội dung, về thời lượng của chương trình. Tất cả các vấn đề đó đã gây không ít khó khăn cho việc dạy, học lịch sử ở trường trung học phổthống hiện nay. Túy vậy, việc vânh dụng BTNT phù hợp sẽ đem lại hiệu quả trong quá trình dạy học. Chúng ta có thể vận dụng BTNT trong các trường hợp sau đây:

- Sử dụng BTNT đầu giừo học để tạo tình huống có vấn đề vàđặt mục tiêu nhận thức cho học sinh. Với trường hợp này thông qua bài học tại lớp học sinh có thể tự tìm lời giải hoặc về nhà các em tự giải bài.

- Giáo viên đặt câu hỏi nhận thức, trong giờ dạy trùng với một phần kiến thức trong bài để thay thế cho phần nội dung đó. Trường hợp này giáo viên hướng dẫn và cùng với học sinh giải bài tập để các em chủ động trong khi tiếp thu kiến thức.

- Sử dụng bài tập vào tiết ôn tập để học sinh nắm vững được khái quát hóa nội dung của quá trình lịch sử hoặc của một chương... Bây giừo chúng ta cùng nhau thiết kế một số bài tập cụ thể trong phần lịch sử thế giới cận đại.

4. Thiết kế một số bài tập.

* Bài tập số 1: Nói về sự phát triển kinh tế tư bản chủnghĩa ở Anh hồi thế kkỷ XVII, một người đương thời kể rằng:"Trong một phòng làm việc rộng và dài có 200 công nhân làm thuê trên 200 chiếc máy dệt. tát cả làm theo hàng bên cạnh mỗi người có một em nhỏ ngồi chuẩn bị thoi dệt. Cùng lúc ở phòng khác có 100 người đàn bà đang chải len, một phòng khác có 100 cô gái đang kéo sợi không ngừng tay; 50 người lựa len thô và tinh. Một phòng khác có 50 người thợ nhuộm, 50 thợ in hoa lên vải.

- Qua lời kể trên, em hãy tự rút ra những điểm khác nhau giữa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với công trường thủ công thời trung đại?.

* Bài tập 2: (Thiết kế cho bài chiến tranh dành độc lập của 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ...).

Trong tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ năm 1776 có đoạn viết:"Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền bất khả xâm phạm. Quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc, bên cạnh đó tuyên ngôn cũng thừa nhận quyền lực của giai cấp tư sản, của người da trắng không thủ tiêu chế độ nô lệ. Em có nhận xét gì về bản tuyên ngôn này/.

* Bài tập 3: (Thiết kế cho bài cách mạng tư sản Pháp cuổi thế kỉ XVIII-lịch sử 11 ban nâng cao).

Những chính sách mà phái Gia Cô Banh giải quyết cho quần chúng nhân dân, chính sách nào dưới đây có ý nghĩa nhất đối với nông dân nghèo?.

+ Chia ruộng đất ra từng mảnh nhỏ và bán trả trong thời gian 10 năm.

+ Trả lại về việc cho nông dân sử dụng đất công bị lãnh chúa chiếm.

+ Xóa bỏ đặc quyền và phụ thu phong kiến.

* Bài tập 4: Vấn đề cuộc CM tư sản Pháp.

Cách mạng tư sản pháp (1789-1799) đạt đến đỉnh cao là thời chuyên chính dân chủ Gia Cô Banh (Từ 2-6-1793 đến 27-7-11794). Vì sao thời kỳnày là đỉnh cao? Nguyên nhân dẫn đến đỉnh cao?.

* Bài tập số 5: Vận dụng cho bài cách mạng tư sản Anh (Thếkỉ XVII).

Vì sao cách mạng tư sản Anh mang tính bảo thủ, còn cách mạng tư sản Pháp mạng tinh triệt để hơn?.

* Bài tập 6: Thiết cho bài 7: Hoàn thành cách mạng tư sản ởChâu Âu và Mĩ (giữa thế kỉ XIX).

Nửa đầu thế kỉ XIX, Nga là môtk nước phong kiến lạc hậu hơn so với các nước tư bản phương tây;cũng là nước duy nhất không chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng năm 1848. Bấy giờ Nga vẫn là nước phong kiến lạc hậu, quan hệ sản xuất phong kiến nông nô chiếm địa vị thống trị do đó mâu thuẫn xã hôi trở nên sâu sắc.

Để đe dọa mâu thuẫn ấy và giữ vững ngai vàng của mình Nga Hoàng A Lếch Xan II đã kí sắc lệnh giải phóng nông nô. Theo em, việc làm đó có lợi cho sự phát triển hay đất nước không? Giải thích vì sao?.

* Bài tập số 7: Về học thuyết C.Mác.

Chủ nghĩa Mác do Mác và Ăng Ghen sáng lập vào giữua thế kỉXIX được coi là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng loài người. Em hãy giải thích nhận định trên.

Chúng ta thực hành một bài cụ thể trong các bài tập đã nêu ởtrên (Lấy bài số 1).

Nói về sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Anh hồi thế kỉXVII một người đương thời kể lại rằng: "Trong một phòng làm việc có 200 công nhân làm thuê trên 200 chiếc máy dệt tất cả làm theo hàng. Bên cạnh đó mỗi người có một em nhỏ ngồi chúẩn bị thoi dệt, cùng lúc ở phòng khác có 100 ngườiđần bà đang chải len, một phòng khác có 100 cô gái đang kéo sợi không ngừng tay, 50 người ngồi lựa len thô và tinh. Một phòng khác có 50 người thợ nhuộm, 50 người thợ in hoa lêm vải...".

Qua lời kể trên em hãy tự rút ra sự khác nhau giữa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa với công trình thủ công thời trung đại?.

Chúng ta làm các bước như sau:

* Xác định mục đích, yêu cầu và nội dung chính của bài: Bài 6 Cách mạng công nghiệp nửa đầu thế kỉ XVIII-giữa thế kỉ XIX.

- Cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra đầu tiên ở Anh, sau đó lan ra các nước khác nó củng cố và sự thắng lợi của phát triển chủ nghĩa tư bản.

- Những thành tựu và hệ quả của cách mạng công nghiệp.

- Qua bài thấy được sự tiến bộ vượt bậc của LLSX-TBCN để từ đó học sinh thấy được vì sao đảng ta dã và đang xác định đường lối CNH-HĐH đểkhông ngừng học tập tu dưỡng góp phần của mình trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

- So với hình thức sản xuất trong công trình thủ công thời trung đại, hình thức sản xuất trên tến bộ hơn và do đó năng xuất lao động cũng tăng lên rất nhiều lần. Công trình thủ công thời trung đại đó là một đơn vị sản xuất trên cơ sở phân công lao động và kỹ thuật làm bằng tay là chủ yếu. Nó tồn tại và phát triển ở các thành thị Tây Âu từ thế kỉ XVđến thế kỉ XVII kỹ thuật sản xuất trong công trình thủ công kết hợp vừa băng tay vừa bằng máy móc bướcđầu có sự chuyên môn hóa, quan hệ sản xuất là chủ và thợ.

- Còn kiểu sản xuất theo lời kể trên hoàn toàntheo dây chuyền và đã chuyên môn hóa hoàn toàn từ khâu chuẩn bị sợi, phân loại sợi, đệt và cả việc nhuộm cuối cùng là một sản phẩm hoàn chỉnh có thể đưa ra thị trường tiêu thụ.

- Quan hệ sản xuất trong hình thức sản xuất trên là quan hệgiữa ngưỡi làm thuê (công nhân) với nhà tư bản - quan hệ bóc lột sức lao động.

Rõ ràng sản xuất theo cách thức trên nó là nền sản xuất tưbản chủ nghĩa khác so với cách sản xuất trong công trình thủ công thời trungđại. Sản xuất trong công trình thủ công chỉ là bước quá độ chuẩn bị cho việchuyển sang giai đoạn sản xuất bằng máy móc của chủ nghĩa tư bản ở thời kì sau.

- Sau cùng chúng ta liên hệ đến công cuộc công nghiệp hóa của nhà nước từ đó xác định nhiệm vụ của học sinh trong sự nghệp CNH-HĐH hiện nay.

* Đã có phương án giải BT việc cuối cùng là chúng ta vận dụng để thực hành tại lớp.

Trên đây là một ví dụ trong quá trình chúng ta triển khai các bước thiết kế, sử dụng BTNT trong giảng dạy bài cách mạng công nghiệp thếkỉ XVIII-XIX.

II. KẾT LUẬN

Bài tập nhận thức một khâu quan trọng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT. Làm tốt công việc này chúng ta đã góp phần quan trọng đối với việc đổi mới phương pháp giáo dục của hiện nay. Hiện nay việc dạy và học môn Lịch sử còn nhiều còn bàn cãi ví như chương trình sách giáo khoa, thời lượng chương trình. Phần lớn nội dụng trong SGK là nặng nề, có quá nhiều sự kiện nên học sinh không nhớ hết nội dung chính. Mặc dù chương trình và SGKđã có tiến bộ nhưng lượng kiến thức phổ thông như vậy là quá nặng, rườm rà.

Để khắc phục phần nào những bất cập trên việc thiết kế và sửdụng bài tập nhận thức góp phần giúp người học lĩnh hội được kiến thức cơ bản từ đó hiểu được lịch sử. Tất nhiên để thiết kế được bài tập nhận thức đòi hỏi tốn kém về thời gian và công sức của người dạy. Nhưng chúng ta cũng phải làm tốt việc này mới có thể tạo cho học sinh một thói quen trong quá trình học tập lịch sử

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết thúc Lớp học Lịch sử 7, các em có thể:

▪ Hiểu sâu sắc các kiến thức lịch sử cơ bản của chương trình Lịch sử 7:

- Sự hình thành, phát triển và suy vong của chế độ phong kiến ở châu Âu.

- Sự hình thành chủ nghĩa tư bản và cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản thời kì hậu trung đại ở châu Âu.

- Sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á.

- Nước Việt Nam buổi đầu độc lập – thời Ngô – Đinh – Tiền Lê.

- Nước Đại Việt thời Lý và công cuộc chống quân Tống xâm lược.

- Nước Đại Việt thời Trần và các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông.

- Nước Đại Việt thời Lê sơ và cuộc kháng chiên chống quân Minh.

- Sự phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của nước Đại Việt từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XIX và công cuộc chống thù trong – dẹp giặc ngoài của nhân dân ta.

▪ Rèn luyện các kĩ năng:

- Khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá qua từng sự kiện lịch sử.

- Khả năng tư duy, khái quát hóa, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử để có cái nhìn khách quan, tổng thể đến quá trình phát triển của lịch sử nước nhà nói riêng và lịch sử thế giới nói chung.

- Cách chọn lọc thông tin, các chi tiết lịch sử và trình bày bài thi lịch sử một cách khoa học nhất.

Nội dung tóm tắt: ( xem tất cả )

Phần I: Khái quát lịch sử thế giới trung đại

Bài 1: Sự hình thành và phát triển của xã hội phong kiến ở Châu Âu

Bài 2: Sự suy vong của chế độ phong kiến và sự hình thành chủ nghĩa tư bản ở Châu Âu

Bài 3: Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống phong kiến thời hậu kì trung đại ở Châu Âu

Bài 4: Trung Quốc thời phong kiến

Bài 5: Ấn Độ thời phong kiến

Bài 6: Các quốc gia phong kiến Đông Nam Á

Bài 7: Những nét chung về xã hội phong kiến

Phần II: Lịch sử VN từ TK X đến giữa TK XIX

Chương I: Buổi đầu độc lập thời Ngô – Đinh - Tiền Lê (TK X)

Bài 8: Nước ta buổi đầu độc lập

Bài 9: Nước Đại Cồ Việt thời Đinh - Tiền Lê

Chương II: Nước Đại Cồ Việt thời Lý (TK XI – XII)

Bài 10: Nhà Lý đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước

Bài 11: Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 – 1077)

Bài 12: Đời sống kinh tế, văn hoá

Chương III: Nước Đại Việt thời Trần (TK XIII – XIV)

Bài 13: Nước Đại Việt ở thế kỷ XIII

Bài 14: Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỷ XIII)

Bài 15: Sự phát triển kinh tế và văn hoá thời Trần

Bài 16: Sự suy sụp của nhà Trần cuối thế kỷ XIV

Chương IV: Đại Việt thời Lê sơ (TK XV - đầu TK XVI

Bài 17: Cuộc kháng chiến của nhà Hồ và phong trào khởi nghĩa chống quân Minh đầu thế kỷ XV

Bài 18: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427)

Bài 19: Nước Đại Việt thời Lê sơ (1428 – 1527)

Chương V: Đại Việt ở cac TK XVI – XVIII

Bài 20: Sự suy yếu của nhà nước phong kiến tập quyền (thế kỷ XVI – XVIII)

Bài 21: Kinh tế, văn hoá thế kỷ XVI – XVIII

Bài 22: Khởi nghĩa nông dân Đàng ngoài thế kỷ XVIII

Bài 23: Phong trào Tây Sơn

Bài 24: Quang Trung xây dựng đất nước

Chương VI: VN nửa đầu TK XIX

Bài 25: Chế độ phong kiến nhà Nguyễn

Bài 26: Sự phát triển của văn hoá dân tộc cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX

 


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Đình Thanh @ 21:40 10/12/2012
Số lượt xem: 3670
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

Tài liệu chung